Tháng 6. 2026

Quy định cách đặt họ tên cho con cháu của Vua Minh Mạng

 

    Năm 1823, vua Minh Mạng sáng tác bài "Đế Hệ Thi“ nhằm quy định chữ lót dùng trong việc đặt tên cho con cháu nam qua các thế hệ kế tiếp của hoàng tộc.

Ngoài ra, nhà vua còn sáng tác mười bài gọi là "Phiên Hệ Thi“ nhằm quy định chữ lót cho con cháu các đời của những người anh em mình, tức các hoàng tử là con của Hoàng đế Gia Long.

Giải nghĩa:

MIÊN: Trường cửu
HƯỜNG (HỒNG)*: Lớn lao
ƯNG: Đảm nhận
BỬU: Quý giá
VĨNH: Vĩnh cửu
BẢO: Gìn giữ
QUÝ: Cao sang
ĐỊNH: Ổn định
LONG: Thịnh vượng
TRƯỜNG: Lâu dài
HIỀN: Tài đức
NĂNG: Gìn giữ và phát huy
KHAM: Gánh vác
KẾ: Nối tiếp
THUẬT: Noi theo
THẾ: Đời đời
THOẠI (THỤY)*: Điềm lành
QUỐC: Giang sơn
GIA: Tốt đẹp
XƯƠNG: Hưng thịnh

* - HƯỜNG - dùng thay cho HỒNG do kỵ húy.
- THOẠI - dùng thay cho THỤY do kỵ húy.

 

Ý nghĩa của bài thơ là lời dạy bảo của vua Minh Mạng về việc giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dòng tộc cho các thế hệ nối tiếp:

Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh: Mong con cháu nối tiếp, gìn giữ gia phong bền vững lâu dài.

Bảo Quý Định Long Trường: Giữ gìn giá trị quý báu của tổ tiên, xây dựng cơ nghiệp ổn định và hưng thịnh lâu bền

Hiền Năng Kham Kế Thuật: Con cháu là người hiền đức, tài năng, đủ khả năng kế thừa và phát huy sự nghiệp của tổ tiên.

Thế Thoại Quốc Gia Xương: Các thế hệ nối tiếp làm đất nước tốt đẹp phồn vinh.

 

Bản dịch trong Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả:

Huấn nghiệp lớn do Tổ Tiên gầy dựng
Gắng giữ gìn cho xứng ân sâu
Phồn vinh thịnh đạt dài lâu
Anh tài hiền đức cùng nhau bảo toàn
Đời đời nối nghiệp tiền nhân
Nước nhà hưng thịnh muôn phần phát huy. 

    Phái nam được quy định cách đặt tên theo “Đế Hệ Thi” như sau:
- Con trai vua Minh Mạng: Nguyễn Phúc + Miên + Tên.  Ngoài ra, mỗi người còn được ban tước hiệu. Ví dụ: Nguyễn Phúc Miên Cầu được phong tước
Trấn Định Quận Công.

- Các đời kế tiếp: Nguyễn Phúc (Phước) + chữ lót trong Đế Hệ Thi + Tên. Để đơn giản, nhiều gia đình lược bỏ phần “Nguyễn Phúc”, chỉ giữ lại chữ lót trong Đế Hệ Thi + tên.

    Phái nữ được quy định cách đặt tên như sau:
- Con gái vua Minh Mạng: Nguyễn Phúc + Tên.
Tên thường là tên kép theo phong cách Hán-Việt: chữ đầu gắn với mỹ tự như “Ngọc”, “Diệu”, “Thục”, “Huệ”, “Mỹ”… Khi còn nhỏ được gọi là Hoàng nữ; đến tuổi trưởng thành hoặc sau khi lập gia đình sẽ được phong tước hiệu Công chúa.  Ví dụ: Nguyễn Phúc Thục Tĩnh được phong tước Xuân An Công Chúa.
- Đời ngang hàng với “Hường” của phái nam: Công nữ + Tên
- Đời ngang hàng với “Ưng”: Công tôn nữ + Tên
- Đời ngang hàng với “Bửu”: Công tằng tôn nữ + Tên
- Đời ngang hàng với “Vĩnh”: Công huyền tôn nữ + Tên
- Đời ngang hàng với “Bảo”, cách đặt tên cho phái nữ không còn thống nhất:
Tôn Nữ + Tên hoặc Công Huyền Huyền Tôn Nữ + Tên hoặc Nguyễn Phúc (Phước) + Tên, …

    Hiện nay, nhiều gia đình sử dụng cấu trúc Nguyễn Phúc (Phước) + chữ lót trong Đế Hệ Thi + Tên để đặt họ tên cho cả nam lẫn nữ.

“Thánh chế mạng danh kim sách” là cuốn sách đúc bằng vàng do vua Minh Mạng ban hành năm 1823, quy định nguyên tắc đặt tên cho phái nam thuộc hoàng tộc triều Nguyễn.
Kim sách có kích thước: dài: 23,2 cm, rộng: 13,7 cm, dày: 1,6 cm; nặng: 4,232 kg. Sách được chạm khắc tinh xảo, gồm 13 tờ và gáy đóng bằng 4 khuyên tròn.
Hai tờ bìa chạm hình rồng năm móng và vân mây tượng trưng cho vương quyền. Mười một tờ bên trong khắc nội dung bài “Đế Hệ Thi” và mười bài “Phiên Hệ Thi”.
Hiên nay, kim sách đang được lưu giữ tại Bảo Tàng Lịch Sử Quốc Gia Việt Nam.

 




 

 


                                                                   Tháng 5.2026